Thứ sáu, ngày 27 tháng 04 năm 2018
Hợp tác quốc tế
Hình ảnh
VIỆN VẮC XIN VÀ SINH PHẨM Y TẾ
Tư Liệu Nghiên Cứu Huyết Thanh

Đánh giá chất lượng 10 loại huyết thanh kháng dại tinh chế sản xuất trong năm 2002 và 2003

Nguyễn Văn Bình, Lê Văn Hiệp, Lê Văn Bé, Bùi Văn Sơn và Phan Minh Phương

Viện Vacxin Nha Trang – Đà Lạt

TÓM TẮT

Sản xuất huyết thanh kháng dại trong 2 năm qua của Viện Vacxin đã đạt kết quả chất lượng cao hơn do áp dụng quy trình tinh chế mới (huyết thanh trắng trong, hàm lượng protein thấp dưới 60 mg/ml) và mỗi loạt tinh chế được 5000 – 7000 lọ.

 Sản xuất kháng huyết thanh uốn ván tinh chế loại 10.000 IU dùng trong điều trị

Lê Văn Hiệp, Nguyễn Văn Bình, Lê Văn Bé, Bùi Văn Sơn và Phan Minh Phương

Viện Vacxin Nha Trang – Đà Lạt

TÓM TẮT

Bằng những cải tiến trong quy trình gây miễn dịch cho ngựa và quy trình sản xuất huyết thanh kháng độc tố uốn ván tinh chế loại 1500 IU/ml, viện Vacxin đã sản xuất huyết thanh kháng uốn ván tinh chế 10.000 IU dùng cho điều trị với chất lượng tốt: đạt tiêu chuẩn cơ sở và WHO, hàm lượng protein thấp dưới 70 mg/ml, và hiệu giá trung bình ³ 3000 IU/ml.

 Thử nghiệm trên người huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất (Naja kaouthia) và huyết thanh kháng nọc rắn lục tre (Trimeresurus albolabris)

Lê Đức Tâm, Nguyễn Thị Kê, Lê Văn Bé, Lê Văn Hiệp

Viện Vacxin Nha Trang – Đà Lạt

Vũ Văn Đính, Nguyễn Kim Sơn

Khoa cấp cứu A9 – Bệnh viện Bạch Mai

Nguyễn Danh Sinh và Trần Văn Hoàng

TT Nuôi trồng NC chế biến dược liệu Quân khu 9.

TÓM TẮT

Huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất tinh chế (Naja kaouthia) và huyết thanh kháng nọc rắn lục tre tinh chế (Trimeresurus albolabris) được sản xuất tại Viện Vacxin Nha Trang. Đã được thử nghiệm trên người cho thấy phản ứng phụ không đáng kể, sốc phản vệ thấp (1,6%). Hiệu lực điều trị khỏi bệnh của huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất đạt 100% và rắn lục tre đạt 97,3%.

 Hoàn thiện quy trình tinh chế huyết thanh kháng độc tố uốn ván

Vũ Thu Hương, Lê Văn Hiệp và Bùi Văn Sơn

Viện Vacxin Nha Trang – Đà Lạt

TÓM TẮT

Xác định được nhiệt độ, nồng độ và pH thích hợp cho việc tẩy màu huyết thanh tinh chế bằng axit caprylic nhằm hoàn thiện quy trình tinh chế để nâng cao chất lượng của huyết thanh kháng uốn ván, tiết kiệm thời gian sản xuất.

 Ứng dụng kỹ thuật Elisa xác định nhanh hiệu giá huyết thanh kháng dại

Nguyễn Thị Minh Hiền, Trần Ngọc Nhơn, Nguyễn Hoàng Oanh

Viện Vacxin Nha Trang – Đà Lạt

Đỗ Minh Sĩ

Đại học Khoa học Tự nhiên TP.Hồ Chí Minh.

TÓM TẮT

Thời gian kiểm tra hiệu giá huyết thanh kháng dại bằng phương pháp trung hòa kéo dài, tốn kém nhiều súc vật thí nghiệm và công chăm sóc. Kỹ thuật ELISA được sử dụng để xác định nhanh hiệu giá huyết thanh kháng dại. Kết quả cho thấy có mối tương quan cao (r=0,845) giữa phương pháp ELISA và phương pháp trung hòa trên chuột.

 Xây dựng quy trình kiểm tra hàm lượng SO42-trong huyết thanh tinh chế

Vũ Thu Hương, Lê Ngọc Khánh, Bùi Văn Sơn, Tô Hồng Vân

Viện Vacxin Nha Trang – Đà Lạt

TÓM TẮT

Dựa trên nguyên tắc đo độ đục : định tính –SO42-tủa với Ba42-định lượng với huyết thanh tinh chế (HTTC) – tủa với TCA, ly tâm, lấy nước nổi thử với viên đo độ đục sulfate. Tác giả đề nghị được ứng dụng trong kiểm định HTTC.

 Thẩm định thử nghiệm sinh học áp dụng trong kiểm định Vacxin và Huyết thanh

Nguyễn Thị Lan Phương

Viện Vacxin Nha Trang – Đà Lạt

TÓM TẮT

Đã đề cập đến nguyên tắc, nội dung thẩm định sinh học trong kiểm định vacxin và huyết thanh và một số kết quả thẩm định thực hiện tại phòng kiểm định Viện Vacxin về vacxin bạch hầu, ho gà, uốn ván.

 Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng công nghệ sản xuất huyết thanh kháng dại tinh chế.

Nguyễn Thị Kê, Đặng Hồng Phong, Nguyễn Hữu Đôn, Nguyễn Thị Kim loan, Nguyễn Thị Minh Hiền, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Đức Thịnh, Nguyễn Chức, Trần Song Hào và cộng sự

Viện quốc gia sản xuất Vacxin và các Chế phẩm sinh học, Nha Trang – Đà Lạt.

TÓM TẮT :

Dùng kháng nguyên bất hoạt (vacxin dại não chuột ổ 5%) để gây miễn dịch cơ bản, kháng nguyên sống (dung dịch não thỏ nhiễm VP 5%) để gây miễn dịch cao độ và miễn dịch nhắc lại, thời gian nghỉ của ngữa giữa 2 lần miễn dịch nhắc lại là 30 ngày cho kết quả tốt: hiệu giá trung bình của huyết thanh thô 94 IU/ml, tỷ lệ ngựa tử vong thấp (0%).

Quy trình tinh chế Dass (Viện Kasauli) do chúng tôi đã cải tiến để thích hợp với điều kiện hiện có của Viện và đã cho kết quả tốt: hiệu giá trung bình của huyết thanh kháng dại tinh chế đạt 120 IU/ml, hàm lượng protein trung bình 74,20mg/ml, hiệu suất đơn vị 18,54%, huyết thanh kháng dại tinh chế đạt tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO) là trung tâm kiểm định quốc gia. Huyết thanh kháng dại tinh chế được thử thách trên 50 bệnh nhân tình nguyện và 3 bệnh nhân bị nhiễm virút dại gốc VP ở Viện Vacxin cho kết quả tốt; giá thành huyết thanh rẻ hơn giá nhập ngoại 2/3.

 Nghiên cứu áp dụng quy trình Kasauli gây miễn dịch trên ngựa sản xuất Huyết thanh kháng độc tố Bạch hầu

Nguyễn Thị Kê, Đặng Hồng Phong, Nguyễn Hữu Đôn và cộng sự.

Viện quốc gia sản xuất Vacxin và các Chế phẩm sinh học, Nha Trang – Đà Lạt.

TÓM TẮT :

Áp dụng qui trình của Kasauli (Ấn Độ) gây miễn dịch ngựa sản xuất huyết thanh kháng độc tố bạch hầu mang lại kết quả sau:

-Tỷ lệ ngựa chết trong quá trình sản xuất thấp : 27% sau 4 năm.

-Hiệu giá trung bình của huyết thanh kháng độc tố bạch hầu đạt 316 IU/ml (tăng gấp đôi so với hiệu giá miễn dịch theo qui trình Pasteur Paris).

-Giảm sức lao động và thời gian khi gây miễn dịch cho ngựa.

 Nghiên cứu áp dụng phương pháp trả lại hồng cầu cho ngựa sản xuất huyết thanh kháng độc tố uốn ván tại trại Suối Dầu - Viện Vacxin

Nguyễn Thị Kê, Đặng Hồng Phương, Nguyễn Hữu Đôn, Lê Bá Bút và cộng sự

Viện quốc gia sản xuất Vacxin và các Chế phẩm sinh học, Nha Trang – Đà Lạt

TÓM TẮT :

Qui trình lấy máu 2 làn – trả lại hồng cầu cho ngựa sản xuất huyết thanh kháng độc tố uốn ván tại trại Suối Dầu cho kết quả tốt :

+Đàn ngựa mạnh khỏe.

+Huyết thanh thu được đạt tiêu chuẩn cần thiết để tinh chế.

+Tỷ lệ huyết thanh thu được tăng gấp 1,5 – 2 lần (so với khi lấy máu 1 lần không trả hồng cầu).

+Giảm số lượng ngựa đưa vào sản xuất, giảm giá thành.

 Sản xuất Huyết thanh kháng nọc rắn lục tre (Trimeresurus albolabri)s

Nguyễn Chức, Nguyễn Độ và cộng sự

Viện quốc gia sản xuất vacxin và các chế phẩm sinh học, Nha Trang – Đà Lạt

TÓM TẮT :

5 lô huyết thanh kháng nọc rắn lục tre (Trimeresurus albolabris) đầu tiên được sản xuất tại Viện Vacxin đã qua kiểm tra của Trung tâm quốc gia Kiểm định sinh vật phẩm, Hà Nội, đạt yêu cầu về chất lượng (hiệu giá, hóa học, sinh học) theo tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Đang xin phép Bộ Y tế cho thử nghiệm trên thực địa.

 Khảo sát hạn dùng của Huyết thanh kháng độc tố uốn ván tinh chế (SAT) sản xuất tại Viện vacxin

Trần Song Hào, Bùi Văn Sơn và cộng sự

Viện quốc gia sản xuất Vacxin và các Chế phẩm sinh học, Nha Trang – Đà Lạt.

TÓM TẮT :

Huyết thanh kháng độc tố uốn ván tinh chế (SAT) dạng trước, sản phẩm của Viện Vacxin, được thử nghiệm trong 3 năm (1994-1996) về hiệu giá (n=16) bằng phương pháp trung hòa (in vivo), kiểm tra màu sắc ở điều kiện bảo quản lạnh (4oC – 10oC) và nhiệt độ phòng (20oC – 28oC). Kết quả cho thấy hiệu giá giảm 5,5% sau 1 năm; 9,7% sau 2 năm; 13,25% sau 3 năm ở nhiệt độ tủ lạnh. Hiệu giá cũng giảm 5,9% ở nhiệt độ phòng sau 1 tuần. Màu sắc và độ đục không thay đổi sau 3 năm nếu bảo quản đúng yêu cầu lạnh (4oC – 10oC).

Với nhu cầư thị trường hiện nay hiệu giá huyết thanh giảm 10% sau hai năm là phù hợp với thời hạn sử dụng (ghi trên nhãn).

 Nghiên cứu xây dựng một số tiêu chuẩn của Vacxin DPT, Vacxin Dại Fuenzalida đông khô và huyết thanh kháng độc tố uốn ván tinh chế (SAT) của Việt Nam.

Hồ Thị Ánh và cộng sự

Viện quốc gia sản xuất Vacxin và các Chế phẩm sinh học, Nha Trang-Đà Lạt

Hoàng Tích Huyền

Trường đại học Y, Hà Nội

Nguyễn Thu Vân

Trung tâm quốc gia Kiểm định sinh vật phẩm, Hà Nội

TÓM TẮT :

27 loạt Vacxin DPT, 86 loạt Vacxin dại Fuenzalida đông khô và 87 loạt SAT (1988-1993) sản xuất tại Viện Vacxin Nha Trang được nghiên cứu khảo sát.

Trên cơ sở nghiên cứu, chúng tôi đề xuất tiêu chuẩn Việt Nam về các yêu cầu chỉ tiêu hóa học của 3 loại sinh phẩm như sau:

TÓM TẮT :

1. Vacxin DPT :

pH= 7,0 ±0,3

Mer (g%)≤0,02

AlPO<sub>4 </sub>(mg/liều)≤6

Al+++ (mg/liều)≤1,25

Formol (g%)≤0,01

2. Vacxin dại Fuenzalida đông khô

pH= 7,0 ±0,2

Mer (g%)≤0,015

N-tổng số (g%)≤0,9

N-Protein (mg/ml)≤4

NaCl (g%)= 0,58 ±0,05

Phenol (g%)≤0,15

3. Huyết thanh kháng độc tố uốn ván tinh chế (SAT)

pH= 6,5 ±0,5

Mer (g%)≤0,02

N-tổng số (g%)≤15

N-protein (mg/ml)≤150

NaCl (g%)= 0,85 ±0,05 

Nghiên cứu quy trình chế tạo Huyết thanh kháng trực khuẩn mủ xanh để điều trị nhiễm khuẩn ngoại khoa và bỏng

Hoàng Ngọc Hiển, Nguyễn Văn Việt, Nguyễn Thái Sơn, Lê Thu Hồng, , Nguyễn Thị Kê, Đặng Hồng Phong, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Hữu Đôn

Viện quốc gia sản xuất Vacxin và các Chế phẩm sinh học

Nguyễn Vân Quỳnh

Học viện Quân y

TÓM TẮT :

Xác định được serotyp của các chủng trực khuẩn mủ xanh gây nhiễm khuẩn bỏng và nhiễm khuẩn ngoại khoa, từ nhiều cơ sở trong cả nước và chọn được 7 chủng với các serotyp P11, P8, P2, P16, P13 dùng làm vacxin và kháng nguyên gây miễn dịch ngựa sản xuất kháng huyết thanh. Quy trình gây miễn dịch ngựa bằng 6 mũi tiêm dưới da cách nhau 1 tuần với liều lượng mỗi mũi là 6 tỷ tế bào vi khuẩn cho đáp ứng miễn dịch tốt. Hiệu giá kháng thể ngưng kết trung bình 1/1060 ±200.

 Kiểm tra chất lượng huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất do bệnh viện Chợ Rẫy sản xuất, bước đầu góp phần xây dựng tiêu chuẩn huyết thanh kháng nọc rắn ở Việt Nam.

Nguyễn Văn Thị, Tống Viết Thắng

Phân viện Kiểm nghiệm TP.Hồ Chí Minh

Nguyễn Thị Thiên Kim, Trần Đức Hải, Nguyễn Thị Kê

Viện quốc gia sản xuất Vacxin và các chế phẩm sinh học, Nha Trang – Đà Lạt

TÓM TẮT :

Để kiểm tra huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất do bệnh viện Chợ Rẫy sản xuất, dựa vào tiêu chuẩn về huyết thanh kháng nọc rắn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chúng tôi đề ra chỉ tiêu, phương pháp kiểm tra vô trùng, an toàn, chí nhiệt tố, hiệu giá theo quy trình của Viện Alabang (Philippines) đơn vị tính MU (đơn vị chuột)/ml.

Qua kiểm tra, các lô huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất số 1/95, 5/95, 6/95, 7/95 đạt yêu cầu, được Bộ Y tế làm căn cứ cho phép thực địa. Qua kết quả điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy, các lô huyết thanh trên an toàn.

Phương pháp kiểm tra trên đơn giản, dễ thực hiện tại các phòng thí nghiệm của Việt Nam, phù hợp với phương pháp của quốc tế và các nước Đông Nam Á. Đề nghị đưa các tiêu chuẩn và phương pháp trên vào tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng huyết thanh kháng nọc rắn của Việt Nam. 

Kết quả miễn dịch trị liệu bằng kháng huyết thanh trên 46 nạn nhân do rắn hổ đất cắn, nhiễm độc nặng.

Trịnh Kim Ảnh, Nguyễn Địch, Phạm Mạnh Hùng, Trịnh Xuân Kiếm, Lê Khắc Quyến

Đơn vị nghiên cứu Rắn độc và Trại 22A, Bệnh viện Chợ Rẫy

Nguyễn Bá Phước, Hoàng Yên Bình, Trần Quốc Túy, Nguyễn Thị Kê

Viện quốc gia sản xuất Vacxin và các Chế phẩm sinh học, Nha Trang – Đà Lạt.

TÓM TẮT :

-Sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất (Naja Kaouthia) do bệnh viện Chợ Rẫy sản xuất trên 46 nạn nhân bị rắn hổ đất, nhiễm độc thần kinh đã mang lại kết quả sau:

-Hồi phục hoàn toàn và nhanh chóng cho các bệnh nhân điều trị, tỷ lệ tử vong 0% so với nhóm chứng 22%.

-Huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất có tính an toàn, hiệu lực cao.

-Miễn dịch điều trị đặc hiệu huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất đã góp phần làm giảm tỷ lệ chung do rắn độc cắn từ 20% xuống 3,1%.