Chủ nhật, ngày 19 tháng 08 năm 2018
Hợp tác quốc tế
Hình ảnh
VIỆN VẮC XIN VÀ SINH PHẨM Y TẾ
Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ
Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ

PHỤ LỤC 6

PHÁC ĐỒ CẤP CỨU SỐC PHẢN VỆ
(Kèm theo Thông tư số 08/1999-TT-BYT ngày 04 tháng 05 năm 1999) 

I.                  TRIỆU CHỨNG:

Ngay sau khi tiếp xúc với dị nguyên hoặc muộn hơn, xuất hiện:

-       Cảm giác khác thường (bồn chồn, hốt hoảng, sợ hãi…), tiếp đó xuất hiện triệu chứng ở một hoặc nhiều cơ quan:

-         Mẩn ngứa, ban đỏ, mày đay, phù Quincke

-         Mạch nhanh nhỏ khó bắt, huyết áp tụt có khi không đo được

-         Khó thở (kiểu hen, thanh quản), nghẹt thở

-         Đau quặn bụng, ỉa đái không tự chủ

-         Đau đầu, chóng mặt, đôi khi hôn mê

-         Choáng váng, vật vã, giãy giụa, co giật.

II.               XỬ TRÍ:

A.   Xử trí ngay tại chỗ:

1.     Ngừng ngay đường tiếp xúc với dị vật nguyên (thuốc đang dùng tiêm, uống, bôi, nhỏ mắt, mũi)

2.     Cho bệnh nhân nằm tại chỗ

3.     Thuốc: Adrenaline là thuốc cơ bản để chống sốc phản vệ

Adrenaline dung dịch 1/1.000, ống 1ml = 1mg, tiêm dưới da ngay sau khi xuất hiện sốc phản vệ với liều như sau:

+ ½ - 1 ống ở người lớn

+ Không quá 0,3 ml ở trẻ em (ống 1 ml(1mg) + 9ml nước cất = 10ml sau đó tiêm 0,1 ml/kg)

+ Hoặc Adrenaline 0,01 mg/kg cho cả trẻ em lẫn người lớn.

Tiếp tục tiêm adrenaline liều như trên 10-15 phút/lần cho đến khi huyết áp trở lại binh thường.

Ủ ấm, đầu thấp chân cao, theo dõi huyết áp 10-15 phút/lần (năm nghiêng nếu có nôn)

Nếu sốc quá nặng đe doạ tử vong, ngoài đường tiêm dưới da có thể tiêm adrenaline dung dịch 1/10.000 (pha loãng 1/10) qua tĩnh mạch, bơm qua ống nội khí quản hoặc tiêm qua màng nhẫn giáp.

B.   Tuỳ theo điều kiện trang thiết bị y tế và trình độ chuyên môn kỹ thuật của từng tuyến có thể áp dụng các biện pháp sau:

1.     Xử trí suy hô hấp

Tuỳ theo tuyến và mức độ khó thở có thể áp dụng các biện pháp sau:

Thở oxy mũi - thổi ngạt

Bóp bóng Ambu có oxy

Đặt ống nội khí quản, thông khí nhân tạo. Mở khí quản nếu có phù thanh môn.

Truyền tĩnh mạch chậm: aminophyline 1mg/kg/giờ hoặc terbutaline 0,2 microgram/kg/phút.

Có thể dùng:

Terbutaline 0,5mg, 1 ống dưới da ở người lớn và 0,2ml/10kg ở trẻ em. Tiêm lại sau 6-8 giờ nếu không đỡ khó thở.

Xịt họng terbutaline, salbutamol mỗi lần 4-5 nhát bóp, 4-5 lần trong ngày.

2.     Thiết lập một đường truyền tĩnh mạch adrenaline để duy trì huyết áp bắt đầu bằng 0,1 microgram/kg/phút điều chỉnh tốc độ theo huyết áp (khoảng 2mg adrenaline/giờ cho người lớn 55 kg)

3.     Các thuốc khác

- Methylpredniolonel 1-2mg/kg/4 giờ hoặc hydrocortisone hemisuccinate 5mg/kg/giờ tiêm tĩnh mạch (Có thể tiêm bắp ở tuyến cơ sở). Dùng liều cao hơn nếu sốc nặng (gấp 2-5 lần)

- Natriclorua 0,9% 1-2 lít ở người lớn, không quá 20ml/kg ở trẻ em.

- Diphenhydramine 1-2 mg tiêm bắp hay tĩnh mạch

4.     Điều trị phối hợp:

Uống than hoạt 1g/kg nếu dị nguyên qua đường tiêu hoá

Băng ép chi phía trên chỗ tiêm hoặc đường vào của nọc độc

Chú ý:

-         Theo dõi bệnh nhân ít nhất 24 giờ sau khi huyếp áp đã ổn định

-         Sau khi sơ cứu nên tận dụng đường tiêm tĩnh mạch đùi (vì tĩnh mạch to, nằm phía trong động mạch đùi, dễ tìm)

-         Nếu huyết áp vẫn không lên sau khi truyền đủ dung dịch và adrenaline, thì có thể truyền thêm huyết tương, albumin (hoặc máu nếu mất máu) hoặc bất kỳ dung dịch cao phân tử nào sẵn có.

-         Điều dưỡng có thể sử dụng adrenaline dưới da theo phác đồ khi y, bác sĩ không có mặt.

-         Hỏi kỹ tiền sử dị ứng và chuẩn bị hộp thuốc cấp cứu sốc phản vệ trước khi dùng thuốc là cần thiết.